Pháp luật

Cần xử lý nghiêm hành vi dụ dỗ trẻ em qua mạng

Hồng Giang 05/06/2026 - 21:33

Theo chuyên gia, hiện nay, các đối tượng xấu đang lợi dụng mạng xã hội để tiếp cận trẻ em, tạo lòng tin rồi từng bước thao túng tâm lý, cô lập trẻ khỏi gia đình và người thân, từ đó thực hiện các hành vi gây hại cho trẻ. Do đó, cần sự kết hợp đồng bộ: hoàn thiện pháp luật – tăng cường phòng ngừa – nâng cao nhận thức – phối hợp liên ngành – hợp tác quốc tế để bảo vệ trẻ em trên không gian mạng.

z7904982287101_98e0bdcab142b01a1e3aacf5001da7fd.jpg
Thủ đoạn lừa đảo của tội phạm mạng ngày càng tinh vi. Ảnh: HTV

Thủ đoạn tinh vi, biến tướng

Khảo sát của UNICEF năm 2022 tại Việt Nam cho thấy, 82% trẻ em từ 12-13 tuổi và 93% trẻ em từ 14 -15 tuổi sử dụng internet mỗi ngày. Khoảng 95% trẻ em trong độ tuổi này sở hữu điện thoại thông minh và dành trung bình từ 3-4 giờ mỗi ngày để lên mạng xã hội như Zalo, Facebook, TikTok hay YouTube. Tình trạng trẻ em "nghiện” thiết bị điện tử, “nghiện” mạng xã hội ngày càng tăng lên.

Khảo sát của UNICEF tại Việt Nam vào năm 2023 cho thấy, 54% trẻ em Việt Nam không biết cách thiết lập quyền riêng tư cá nhân và hơn 40% chưa từng được dạy ứng xử đúng khi bị gạ gẫm, đe dọa.

Theo cơ quan công an, khoảng 90% các vụ án bắt cóc online, dẫn dụ online chủ yếu là học sinh, sinh viên, trẻ vị thành niên.

Trao đổi với phóng viênCơ quan Báo và Phát thanh Truyền hình Hà Nội, tiến sĩ, luật sư Đặng Văn Cường, Ủy viên Ban chấp hành Hội bảo vệ Quyền trẻ em Việt Nam cho rằng, không thể phủ nhận thành tựu khoa học kỹ thuật, đặc biệt là sự lan tỏa thông tin nhanh chóng trên các nền tảng mạng máy tính, mạng viễn thông, các phương tiện điện tử và sự hữu dụng của các nền tảng mạng xã hội. Tuy nhiên, tỷ lệ trẻ em sử dụng mạng xã hội ở Việt Nam ngày càng nhiều dẫn đến xu hướng các em bị lạm dụng, bị tác động tiêu cực đến sức khỏe, tâm lý, đời sống.

Theo luật sư Đặng Văn Cường, nếu như trước đây, tội phạm xâm hại trẻ em thường diễn ra trực tiếp, thì nay môi trường mạng đã trở thành “mảnh đất màu mỡ” cho các thủ đoạn mới. Một số hình thức phổ biến gồm: giả danh bạn bè, người quen để tiếp cận, tạo sự tin tưởng, rồi dụ dỗ gặp mặt hoặc gửi hình ảnh nhạy cảm; dùng chiêu trò “bắt cóc online”: Gọi điện giả danh công an, tòa án, đe dọa trẻ em hoặc gia đình có liên quan vụ án, ép nạn nhân cắt liên lạc và chuyển tiền; lôi kéo qua trò chơi trực tuyến, mạng xã hội: Kẻ xấu tặng vật phẩm ảo, tạo cảm giác thân thiết, rồi từng bước yêu cầu trẻ chia sẻ thông tin, hình ảnh riêng tư; phát tán nội dung khiêu dâm, gạ gẫm tham gia: Ép trẻ quay video nhạy cảm để tống tiền hoặc chia sẻ cho người khác.

z7904982282931_68e5ce0314d9625bc2e9433296180a34.jpg
Chiêu trò bắt cóc online của các đối tượng xấu. Ảnh: HTV

Luật sư Cường cho biết, rất nhiều em nhỏ thiếu kỹ năng số cơ bản như thiết lập quyền riêng tư, ứng xử khi bị nhắn tin gạ gẫm hay cách phân biệt thật - giả trên mạng. Ngoài ra, trẻ em có tâm lý non nớt, dễ tin vào lời "ngọt ngào", thích được khen ngợi, muốn khám phá điều mới lạ hoặc thiếu sự giám sát từ gia đình do cha mẹ bận rộn, không kiểm soát việc con sử dụng mạng. Hơn nữa, nhiều ứng dụng, mạng xã hội không có bộ lọc hiệu quả cho trẻ em. Công tác đấu tranh, xử lý của cơ quan chức năng gặp nhiều khó khăn do các đối tượng đặt máy chủ tại nước ngoài, sử dụng tài khoản và định danh ảo.

Pháp luật còn nhiều “khoảng trống”

Mặc dù pháp luật Việt Nam đã có nhiều quy định liên quan đến bảo vệ trẻ em, song vẫn còn nhiều lỗ hổng. Cụ thể, Bộ luật Hình sự có các điều khoản xử lý hành vi hiếp dâm, dâm ô, mua bán người… nhưng lại chưa quy định rõ tội dụ dỗ trẻ em qua mạng. Hành vi dụ dỗ mà chưa có hậu quả cụ thể thường chỉ bị xử phạt hành chính theo Nghị định 144/2021/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình, mức phạt từ 3–5 triệu đồng. Đây là mức chế tài nhẹ, không đủ sức răn đe.

Cùng với đó, hệ thống luật phân tán, thiếu thống nhất được thể hiện ở các quy định bảo vệ trẻ em nằm rải rác ở Bộ luật Hình sự, Luật Trẻ em, Luật An ninh mạng,… dẫn đến chồng chéo, khó áp dụng trong thực tế. Khi có vụ việc, cơ quan chức năng thường mất nhiều thời gian xác định hành vi thuộc phạm vi luật nào.

Ngoài ra, luật cũng chưa theo kịp tốc độ phát triển công nghệ. Trong khi tội phạm ngày càng lợi dụng AI, mạng xã hội xuyên biên giới, thì luật pháp lại chậm điều chỉnh. Việc xác minh danh tính kẻ xấu ẩn danh, ở nước ngoài, hoặc dùng nhiều lớp tài khoản ảo gần như vượt quá khả năng xử lý hiện nay.

Nhiều vụ việc không được phát hiện sớm do thiếu đường dây nóng chuyên biệt, hoặc người dân chưa biết báo cho cơ quan nào dẫn đến cơ chế phối hợp giữa gia đình, nhà trường, cơ quan chức năng và các nền tảng số còn lỏng lẻo.

Theo luật sư, hệ thống pháp lý hiện nay ưu tiên xử lý hậu quả hơn là phòng ngừa từ sớm. Việc thiếu kiểm soát việc trẻ sử dụng mạng, sử dụng điện thoại hay mạng xã hội một cách tự do, không có giám sát kỹ thuật lẫn giáo dục, khiến việc bảo vệ trẻ càng gặp khó khăn.

“Những lỗ hổng trên dẫn đến hậu quả nghiêm trọng khiến trẻ tổn thương tinh thần, trầm cảm, mặc cảm, thậm chí có hành động tiêu cực khi bị phát tán hình ảnh nhạy cảm. Gia đình cũng dễ rơi vào trạng thái lo lắng, khủng hoảng, tổn thất kinh tế do bị lừa đảo, tống tiền. Đặc biệt, xã hội sẽ gia tăng tình trạng trẻ em bỏ nhà đi, trẻ vị thành niên phạm tội, mất niềm tin vào an toàn trên mạng”, luật sư Đặng Văn Cường nhấn mạnh.

Hình sự hóa hành vi dụ dỗ trẻ em qua mạng

Muốn bảo vệ trẻ em trên không gian mạng, cần sự kết hợp đồng bộ: hoàn thiện pháp luật – tăng cường phòng ngừa – nâng cao nhận thức – phối hợp liên ngành – hợp tác quốc tế. Đặc biệt, phải coi trẻ em không chỉ là đối tượng được bảo vệ, mà còn là chủ thể cần được trang bị kỹ năng số, đủ sức tự bảo vệ mình.

Luật sư Cường cho rằng, Việt Nam cần có quy định để quản lý việc trẻ em sử dụng mạng xã hội nói riêng và sử dụng mạng internet nói chung. Cần phải có các quy định của pháp luật để kiểm soát các nền tảng mạng xã hội, hạn chế trẻ em sử dụng mạng xã hội như định danh tài khoản mạng xã hội, lọc thông tin theo độ tuổi, hạn chế thời gian sử dụng mạng xã hội của trẻ em, kiểm soát các thông tin đối với trẻ em để đảm bảo các thông tin phù hợp với lứa tuổi, giảm thiểu đến mức thấp nhất các hội nhóm tiêu cực, các thông tin độc hại, những hiện tượng lạm dụng, bắt nạt trẻ em trên không gian mạng.

Cũng cần quy định trách nhiệm của cha mẹ, của nhà trường cũng như các cơ quan chức năng trong việc kiểm soát việc trẻ em sử dụng mạng xã hội bằng các giải pháp kỹ thuật, công nghệ, các giải pháp về kỷ luật, về trách nhiệm pháp lý đối với những người có chức năng nhiệm vụ quản lý giáo dục, chăm sóc và bảo vệ trẻ em.

Bên cạnh đó, cần nâng cao nhận thức cộng đồng và trách nhiệm các nền tảng số. Các nền tảng số cần tăng cường giám sát nội dung độc hại, hỗ trợ cơ chế báo cáo dễ dàng. Đồng thời, cần triển khai chiến dịch truyền thông rộng rãi từ Bộ Giáo dục và Đào tạo, phụ huynh, báo chí... để cảnh giác và chia sẻ kinh nghiệm thực tế từ các vụ đã xảy ra. Chuyển từ xử lý hậu quả sang phòng ngừa từ xa, đưa kỹ năng kỹ thuật số, quyền riêng tư và nhận diện nguy cơ vào chương trình giáo dục chính thức hoặc các hoạt động ngoại khóa.

ls.jpg
Tiến sĩ, luật sư Đặng Văn Cường, Ủy viên Ban chấp hành Hội bảo vệ Quyền trẻ em Việt Nam. Ảnh: NVCC

Theo luật sư Cường, cần đồng bộ hệ thống pháp luật và phối hợp liên ngành. Cụ thể, cần xây dựng khung pháp lý tổng thể hoặc bổ sung chương riêng về bảo vệ trẻ em trên không gian mạng, tạo sự phối hợp rõ ràng giữa nhà trường, gia đình, nền tảng số và cơ quan chức năng để xử lý kịp thời.

"Cần thiết lập cơ chế hỗ trợ kịp thời bằng các đường dây nóng 24/7 tiếp nhận tố cáo xâm hại trẻ em trên mạng. Phối hợp liên ngành: Kết nối Bộ Công an – Bộ Giáo dục và Đào tạo – Bộ Khoa học và Công nghệ – Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam để xử lý nhanh các vụ việc. Hỗ trợ tâm lý cho trẻ bằng việc thành lập trung tâm tư vấn miễn phí, giúp các em vượt qua cú sốc tinh thần", ông Cường nêu quan điểm.

Luật sư cũng dẫn chứng, nhiều nước như Mỹ, Anh, Australia, Canada đã xây dựng tội danh dụ dỗ trẻ em (child grooming)—chỉ cần kết nối, gợi ý hay sắp xếp gặp trẻ với ý định xấu đều cấu thành tội hình sự. Việt Nam có thể học hỏi mô hình này để tăng cường phòng ngừa sớm và nâng chế tài phù hợp.

“Việt Nam cần nhanh chóng bổ sung tội danh lưu hành quốc tế như tội dụ dỗ trẻ em vào Bộ luật Hình sự, để xử lý nghiêm hành vi dụ dỗ, tống tiền, hoặc ép buộc trẻ thực hiện hành vi đồi trụy, dù chưa dẫn đến hậu quả trực tiếp và dù hoàn toàn diễn ra trong môi trường số”

Tiến sĩ, luật sư Đặng Văn Cường