Chính trị

Kỷ niệm 115 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911 - 5/6/2026):Hành trình lịch sử hồi sinh dân tộc

PGS.TS Trần Viết Lưu 05/06/2026 - 06:07

Cách đây 115 năm, Nguyễn Tất Thành (với tên gọi Văn Ba) đã khởi đầu một hành trình lịch sử hồi sinh dân tộc. Người thanh niên vừa mới đôi mươi đã nung nấu khát vọng ra nước ngoài để xem người ta làm thế nào mà có được những giá trị sống phổ quát “tự do, bình đẳng, bác ái”. Hành trang quý báu của người thanh niên ấy là lòng yêu nước, thương dân. Đó là một hành trình để lại dấu ấn không bao giờ phai mờ trong lịch sử dân tộc, lịch sử thế giới.

t4-bac-ho.jpg
Bến Nhà Rồng, nơi người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước năm 1911. Ảnh Tư liệu

1. Trước khi Nguyễn Tất Thành tiếp cận được luồng ánh sáng chân lý thời đại (Chủ nghĩa Mác - Lênin) thì người dân xứ An Nam đang quằn quại, đớn đau trong đêm trường nô lệ thực dân, phong kiến (nhân gian than trách “Vua là tượng gỗ, dân là thân trâu”). Những tháng ngày còn tuổi thiếu niên ở quê nhà, rồi tại Huế, Nguyễn Sinh Cung - Nguyễn Tất Thành tận mắt chứng kiến cảnh quân xâm lược lùng sục, khủng bố, tận tai nghe tiếng kêu than thảm thương của những người dân vô tội và bao tấm gương anh dũng xả thân vì giang sơn.

Bản thân Nguyễn Tất Thành cũng phải nếm trải cay đắng của cảnh nước mất nhà tan. Cha của Người tuy đỗ Phó bảng, làm quan trong triều đình Huế, song gia đình vẫn phải sống cuộc sống lam lũ. Mẹ của Người vì lao động cật lực để kiếm sống nên bị lao lực mất sớm. Nguyễn Tất Thành mồ côi mẹ khi mới lên 10 tuổi. Em thơ của Người mệnh yểu cũng mất sau đó ít lâu. Chị gái và anh trai của Người tham gia phong trào yêu nước nên bị lao tù. Nguyễn Tất Thành do tham gia phong trào Duy Tân nên sớm bị đuổi học. Cảnh đời, cảnh nhà tăm tối mịt mù đâu phải chỉ phủ đen đối với một gia đình mà đối với cả triệu triệu gia đình, triệu triệu kiếp người. Đại Việt xưa từng vang bóng một thời “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”, “Đánh một trận sạch không kình ngạc/Đánh hai trận tan tác chim muông”, vang vọng tiếng hò reo trống trận Ngọc Hồi - Đống Đa, “Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”, vậy mà từ nửa cuối thế kỷ XIX, An Nam lại bị lâm vào cảnh vong quốc nô.

Cuộc ra đi của các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh trước đó không xa đã không mang lại thành công. Con đường cứu nước vốn đã đi vào ngõ cụt sau những cuộc tàn sát đẫm máu của thực dân Pháp, đầu thế kỷ XX, sau thất bại của phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, phong trào Đông Du và phong trào Duy Tân, dường như sự bế tắc càng thâm sâu hơn, như đêm tối mịt mù giông tố mà chẳng có đường ra. Sự khủng hoảng con đường cứu nước dẫn đến sự bế tắc đường hướng cứu nguy, hồi sinh dân tộc, chẳng biết giai cấp nào, lực lượng nào có thể giải thoát cho lịch sử nước mình để hồi sinh dân tộc. Nếu không có hành trình lặng lẽ âm thầm của Nguyễn Tất Thành - Văn Ba, thì chắc chắn lịch sử Việt Nam không thể có lối thoát, không thể có những thành công mang dấu ấn lịch sử, mang tầm thời đại, càng không thể có được uy tín, vị thế cao trên trường quốc tế như ngày hôm nay, để Đảng ta tự tin khởi phát kỷ nguyên phát triển mới, đưa dân tộc Việt Nam bước tới đài vinh quang.

2. Suốt 30 năm hành trình cứu nguy dân tộc, bẻ lái lịch sử đưa cách mạng Việt Nam vững vàng trên con đường tự chủ, tự lực, tự cường, Nguyễn Tất Thành - Văn Ba - Nguyễn Ái Quốc đã tự mình vượt qua muôn ngàn cửa ải cuộc đời và thời đại; nhưng đáng suy ngẫm nhất là một số cửa ải có tính thời đại lịch sử, tiếp tục cần có những nghiên cứu khoa học chuyên sâu. Cửa ải trước tiên là vượt lên chính mình. Với tư chất thông minh hơn người, Nguyễn Tất Thành hoàn toàn có đủ năng lực để tìm kiếm một sự nghiệp “vinh thân, phì gia”, nhưng nghĩa khí của người yêu nước, người chính nhân quân tử không cho phép làm điều đó. Bản thân cha đẻ của Người và anh, chị của Người cũng là gương sáng yêu nước, chưa kể biết bao bậc chí sĩ anh hùng dám rũ bỏ áo mũ cân đai để lao vào cuộc cứu nguy dân tộc.

Cửa ải thứ hai mà Nguyễn Tất Thành - Văn Ba - Nguyễn Ái Quốc vượt lên là không bị “ô nhiễm chính trị”, không bị khuất phục bởi cường quyền. Trong thế giới “văn minh” phương Tây, trước hết là nơi mà kẻ thù dân tộc lừa dối rằng nước mẹ đại Pháp khai hóa văn minh cho người An Nam, ở đó có những kẻ đeo kính đen rình mò, theo sát, thậm chí có lúc trùm sỏ mật thám Pháp hăm dọa, mua chuộc; nhưng Nguyễn Tất Thành vẫn nhất quyết theo đuổi mục tiêu tối thượng: Độc lập cho Tổ quốc tôi, tự do cho đồng bào tôi. Trong gian khó đường đời, Nguyễn Tất Thành đã kết giao bè bạn với thế giới người cùng khổ, khích lệ tinh thần phản kháng chống lại kẻ thù dân tộc. Người đã không chọn công việc mưu sinh đơn thuần, mà Người đã lăn xả vào công việc kiếm sống và dùng những đồng tiền lao động cật lực vào mục đích in báo tuyên truyền cách mạng, tham gia hăng hái trong phong trào cộng sản quốc tế. Người đã không từ nan khi dám trực tiếp đưa bản “Yêu sách 8 điểm” tới các “ông lớn” tại Hội nghị Véc xay - đó là một tiếng bom chính trị trong lòng thế giới tư bản, thực dân phương Tây.

Cửa ải thứ ba mà Người vượt qua là đủ trí tuệ, bản lĩnh để tiếp cận, nhận biết được giá trị thời đại, ánh sáng chân lý, báu vật quý vô biên, đó là lấy chủ nghĩa Mác - Lê nin làm nền tảng tư tưởng cứu nước, cứu dân, làm la bàn chính trị cho Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đất nước. Thử hình dung, trong đêm tối tĩnh mịch ở hẻm ngõ của Paris, giữa muôn vàn rủi ro, nguy cơ rình rập, bắt cóc, thủ tiêu của kẻ thù, một mình Nguyễn Ái Quốc dò tìm, suy ngẫm (đọc đi đọc lại nhiều lần, lúc đầu có nhiều chữ nhiều câu chưa hiểu, rồi dần dần thấy sáng rõ), cuối cùng thốt lên như nói trước đồng bào mình rằng, đây là con đường giải phóng chúng ta và “lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lênin” - cảm xúc tột độ của một con người mất 9 năm kiên nhẫn tìm hướng đi cho lịch sử nước mình.

Cửa ải thứ tư mà Nguyễn Ái Quốc vượt lên là sự dứt khoát phải trở về Tổ quốc để giúp đồng bào mình. Ngay sau khi tìm được chân lý thời đại, Nguyễn Ái Quốc thổ lộ với những người bạn, đồng chí của mình lúc bấy giờ rằng, bây giờ mọi thứ với tôi đã rõ, nhất quyết tôi phải trở về để giúp đồng bào mình tranh đấu giành độc lập. Nhưng đường trở về của Người còn dài gấp đôi thời gian mà Người tìm ra chân lý thời đại. Phải mất 20 năm sau đó, sau những ẩn mình, thay hình đổi dạng để thoát khỏi con mắt cú vọ mật thám, từ Pháp qua Đức, tới Liên xô, về Hương Cảng, suýt bị kết án tù, rồi nương náu bên Thái Lan, để rồi cuối cùng Người trở về Pác Pó, khai mở chương mới cuộc hồi sinh lịch sử rất giàu chất sử thi. Trước khi trở về Tổ quốc, Nguyễn Ái Quốc đã có công sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức, rèn luyện và trang bị cho chính Đảng vô sản những nền tảng lý luận cách mạng duy nhất đúng. Bốn cửa ải đặc biệt nêu trên có thể gọi là “Tứ đại thế lộ nan” trong 30 năm hành trình lịch sử hồi sinh dân tộc của Nguyễn Ái Quốc. Từ đó tới nay, qua 96 năm lãnh đạo, cầm quyền, Đảng do Người sáng lập và rèn luyện thực sự “là đạo đức, là văn minh”, được các đảng vô sản trên thế giới nể phục, được các đảng cầm quyền khác thể chế chính trị chấp nhận và đặc biệt là được lòng dân tin tưởng.

Thế giới đã, đang và sẽ còn nhiều biến động, song dân tộc Việt Nam vẫn sẽ là một trong những dân tộc có quyền tự hào vì đã giữ vững nền độc lập, tự chủ, thể hiện sâu sắc bản lĩnh chính trị, có đóng góp đáng kể vào phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, kiến tạo hòa bình, bảo vệ lương tri, phẩm giá nhân loại. Tất cả những điều nêu trên sẽ chưa thể có được, nếu như thiếu hành trình cứu nguy dân tộc, hồi sinh lịch sử của Nguyễn Tất Thành, khởi hành vào ngày 05-6-1911. Chân lý thời đại “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” được hun đúc từ ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc; được thai nghén từ hành trình lịch sử nêu trên, tiếp tục được bồi đắp và tỏa sáng trong các cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại. Trong kỷ nguyên mới, những giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn sẽ tiếp tục soi tỏ tương lai dân tộc.