Đo lường giá trị công nghiệp văn hóa: Cần vượt qua tình trạng phân mảnh dữ liệu
Trong nhiều năm qua, công nghiệp văn hóa đã dần khẳng định vai trò là một động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế. Tuy nhiên, khác với nhiều ngành kinh tế truyền thống, công nghiệp văn hóa có phạm vi rộng, tính liên ngành cao và nhiều sản phẩm mang giá trị vô hình. Vì vậy, việc đo lường chính xác giá trị mà lĩnh vực này tạo ra, đặc biệt tại Hà Nội có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Trong đó cần lưu ý việc phát huy sức mạnh dữ liệu tổng hợp và vượt qua tình trạng phân mảnh dữ liệu.
Dữ liệu chuẩn – mô hình từ các quốc gia châu Á
Hà Nội đã gia nhập Mạng lưới Thành phố sáng tạo UNESCO năm 2019 trong lĩnh vực Thiết kế và đang triển khai nhiều chương trình phát triển công nghiệp văn hóa theo tinh thần Nghị quyết 02-NQ/TW về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới.
TS. Bùi Văn Tuấn, Viện Hà Nội học và Đào tạo quốc tế (Trường Đại học Thủ đô Hà Nội) đánh giá, việc xây dựng bộ chỉ tiêu thống kê và cơ sở dữ liệu cho các ngành công nghiệp văn hóa có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, không chỉ là công cụ đo lường mà còn là nền tảng phục vụ quản trị đô thị sáng tạo và hoạch định chính sách. Nếu thiếu hệ thống chỉ tiêu thống kê và cơ sở dữ liệu tích hợp sẽ làm giảm hiệu quả quản lý, giám sát và đánh giá chính sách.
Chuyên gia này dẫn chứng, tại châu Á, Hàn Quốc được xem là hình mẫu thành công trong xây dựng cơ sở dữ liệu công nghiệp văn hóa phục vụ chiến lược phát triển sức mạnh mềm quốc gia. Chính phủ Hàn Quốc thường xuyên cập nhật dữ liệu về điện ảnh, âm nhạc, trò chơi điện tử, hoạt hình, truyền hình và nội dung số. Hệ thống này không chỉ đo lường doanh thu, việc làm, xuất khẩu mà còn theo dõi xu hướng tiêu dùng, năng lực đổi mới và mức độ hội nhập quốc tế của doanh nghiệp văn hóa.

Theo PGS.TS. Nguyễn Đức Chiện (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), một trong những đặc điểm nổi bật của Hàn Quốc là hệ thống thống kê chuyên biệt cho ngành công nghiệp nội dung. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hàn Quốc cùng Cơ quan Nội dung sáng tạo Hàn Quốc giữ vai trò trung tâm trong thu thập, xử lý và công bố dữ liệu. Hằng năm, báo cáo “Content Industry Statistics” tổng hợp thông tin của hầu hết các lĩnh vực như xuất bản, truyện tranh, hoạt hình, âm nhạc, điện ảnh, phát thanh - truyền hình, quảng cáo, trò chơi điện tử, ngành công nghiệp nhân vật và nội dung số. Đây được xem là một trong những hệ thống thống kê đầy đủ và cập nhật cao tại châu Á.
Trong hệ thống chỉ tiêu, nhóm chỉ tiêu kinh tế đóng vai trò cốt lõi, bao gồm số lượng doanh nghiệp, doanh thu, giá trị gia tăng, quy mô thị trường và tốc độ tăng trưởng. Bên cạnh đó, Hàn Quốc đặc biệt chú trọng các chỉ tiêu về lao động như số lượng, cơ cấu và xu hướng phát triển nguồn nhân lực. Ngoài ra, các chỉ tiêu về thương mại văn hóa và xuất khẩu cũng được quan tâm. Dưới tác động của làn sóng “Hallyu”, xuất khẩu các sản phẩm như âm nhạc, điện ảnh, chương trình truyền hình, hoạt hình và trò chơi điện tử đã trở thành nguồn thu quan trọng. Vì vậy, dữ liệu về giá trị, cơ cấu, thị trường và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu được theo dõi thường xuyên.
Trung Quốc cũng sớm chú trọng thống kê các hoạt động kinh tế văn hóa trên môi trường số. Các lĩnh vực như phát trực tuyến, video ngắn, trò chơi trực tuyến, nền tảng sáng tạo nội dung và thương mại điện tử văn hóa trở thành đối tượng thống kê quan trọng. Việc mở rộng phạm vi sang các hoạt động văn hóa số cho thấy hệ thống chỉ tiêu đang thích ứng với sự phát triển của kinh tế số và các ngành sáng tạo mới.
Bên cạnh các chỉ tiêu kinh tế và công nghệ, Trung Quốc cũng chú trọng các chỉ tiêu về hạ tầng văn hóa và khả năng tiếp cận dịch vụ của người dân. Dữ liệu liên quan đến thư viện, bảo tàng, nhà văn hóa, cơ sở nghệ thuật biểu diễn và thiết chế văn hóa công cộng được sử dụng để đánh giá mức độ phát triển văn hóa. Điều này phản ánh cách tiếp cận kết hợp giữa phát triển công nghiệp văn hóa và nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của người dân.
Kinh nghiệm nào cho Hà Nội?
Theo Quyết định số 2486/QĐ-TTg ngày 14/11/2025 của Thủ tướng Chính phủ, các ngành công nghiệp văn hóa tại Việt Nam gồm: Điện ảnh; mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; nghệ thuật biểu diễn; phần mềm và trò chơi giải trí; quảng cáo; thủ công mỹ nghệ; du lịch văn hóa; thiết kế sáng tạo; truyền hình và phát thanh; xuất bản. Riêng Hà Nội, ngoài 10 lĩnh vực này còn có ngành ẩm thực.

Tuy nhiên, theo ông Hoàng Văn Thức, Phó trưởng cơ quan Thống kê Hà Nội, hiện chưa có văn bản chính thức quy định bộ chỉ tiêu thống kê thống nhất để đánh giá và lượng hóa ngành này.
Tháng 4-2025, UBND thành phố Hà Nội giao Sở Văn hóa và Thể thao nghiên cứu xây dựng đề án nhằm đánh giá sự phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa, xác định tỷ trọng đóng góp vào GRDP và hỗ trợ hoạch định chính sách. Thành phố dự kiến xây dựng hệ thống chỉ tiêu dựa trên 4 trụ cột: kinh tế (doanh thu, giá trị tăng thêm, tỷ trọng GRDP, xuất khẩu); lao động (số lượng, thu nhập, tỷ lệ đào tạo, lao động tự do); sáng tạo (bản quyền, sở hữu trí tuệ, giải thưởng); thị trường (quy mô, doanh thu du lịch văn hóa, mức hưởng thụ văn hóa).
Trên cơ sở đó, bộ chỉ tiêu dự kiến gồm 7 nhóm, áp dụng cho 11 ngành công nghiệp văn hóa. Tuy nhiên, việc triển khai gặp nhiều khó khăn do chưa có hệ thống mã hóa ngành tương thích với Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam, các lĩnh vực còn chồng lấn, gây khó khăn trong phân loại. Nguồn dữ liệu hiện nay chủ yếu từ điều tra không toàn bộ, hoặc từ cơ quan thuế nhưng không phân tách chi tiết theo ngành. Ngoài ra, khi công bố GDP, cơ quan thống kê chỉ công bố đến cấp ngành kinh tế cấp 2; bảng IO riêng cho công nghiệp văn hóa chưa được xây dựng. Đây là những thách thức lớn trong việc tính toán và thống kê.
Tiến sĩ Emmanuel Cerise, đại diện Vùng Thủ đô Paris tại Hà Nội chia sẻ kinh nghiệm của nước Pháp: Chính phủ Pháp có cơ chế đánh giá độc lập và thường xuyên nghiên cứu, báo cáo về lĩnh vực này. Chuyên gia này cũng nhấn mạnh: “Hà Nội có nhiều điểm tương đồng về di sản, đặc biệt là di sản phi vật thể cần không gian trình diễn và sự hỗ trợ của doanh nghiệp. Tiềm năng phát triển là rất lớn nếu được khai thác hiệu quả, đồng thời cần tận dụng cơ hội hợp tác quốc tế”.
GS Yong Xiang (Đại học Bắc Kinh) đề xuất, Hà Nội nên khai thác các nội dung sáng tạo đặc trưng như múa rối nước, âm nhạc, dệt lụa, làng nghề… để xây dựng hệ thống dữ liệu thống kê. Đồng thời, cần đảm bảo tính thống nhất, tránh trùng lặp và có cơ chế phối hợp giữa các đơn vị.
“Kinh nghiệm Trung Quốc cho thấy điều quan trọng nhất là sự thống nhất thể chế và đảm bảo tính nhất quán. Giá trị gia tăng cần được sử dụng làm thước đo cốt lõi, cùng với việc phát huy sức mạnh dữ liệu tổng hợp và vượt qua tình trạng phân mảnh dữ liệu. Bên cạnh đó là sự thích ứng với điều kiện địa phương. Hà Nội có thể triển khai theo từng giai đoạn và thí điểm tại các khu vực trọng điểm từ năm 2026” - chuyên gia này cho biết.